Thứ hai, ngày 23 tháng 10 năm 2017
Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin Giáo dục Quảng Trị

Mỗi quốc gia trên thế giới đều có quan điểm riêng về chương trình, sách giáo khoa (SGK). Bởi vì mỗi quốc gia xác định một triết lý giáo dục phù hợp với điều kiện kinh tế và xã hội của đất nước đó. Tham khảo và vận dụng kinh nghiệm giáo dục của các nước cần phải hết sức cẩn thận, phải chú ý đến điều kiện kinh tế, xã hội và văn hoá của Việt Nam. Bước sang kỷ nguyên công nghệ thông tin, SGK cần phải được thay đổi cả về nội dung và hình thức. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của GS.Jeong Ryeol Kim, Trường ĐHSP Quốc gia Hàn Quốc về “Kinh nghiệm phát triển chương trình, sách giáo khoa của Hàn Quốc” trích từ giáo trình phát triển Chương trình Sách giáo khoa Sinh học Phổ thông của PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh và PGS.TS Nguyễn Như Ất, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam năm 2014 để quý đồng nghiệp tham khảo.

Hàn Quốc là quốc gia phát triển, nhưng có nhiều điểm tương đồng về văn hoá với Việt Nam. Hàn Quốc đang rất nỗ lực trong việc thực hiện cải cách chương trình giáo dục.

Ở Hàn Quốc, nội dung giảng dạy ở trường phổ thông được xây dựng và tổ chức thực hiện rất bài bản và có kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu giáo dục phổ thông một cách hiệu quả.

1. Quá trình thay đổi chương trình giáo dục của Hàn Quốc

Biện pháp khẩn cấp đối với giáo dục (1945–1946)

Từ sau ngày giải phóng, Hàn Quốc đã định ra được môn học và thời gian giờ học sẽ áp dụng ở các cấp học phổ thông nhưng do không đủ thời gian nên chưa thể định ra được một cách nhất quán các quan điểm mang tính triết học nên môn học và phân chia giờ học vẫn giữ nguyên nền tảng của cuối thời kỳ bị Nhật chiếm đóng.

Nhưng người dân Hàn Quốc đã dẹp bỏ được mọi tàn dư của giáo dục Nhật Bản và tập trung vào xây dựng nền giáo dục tự chủ của nước nhà. Hàn Quốc đã bỏ môn học tiếp nhận thông tin mang đầy bản chất của chủ nghĩa đế quốc Nhật bằng việc xây dựng môn học công dân để giáo dục tinh thần dân chủ mới cho người dân và nhấn mạnh vào dạy lịch sử Hàn Quốc cùng với chữ quốc ngữ mà trọng tâm là lời nói và chữ viết Hàn Quốc thay cho tiếng Nhật và lịch sử của Nhật.

Nội dung hướng dẫn giảng dạy (1946 – 1954)

Ngay sau khi giải phóng đất nước, do không có một tài liệu hướng dẫn giảng dạy thống nhất nào trong toàn quốc nên đặt ra yêu cầu cần phải soạn thảo các tài liệu này. Đối với trường THCS đã phân bổ thời gian và tổ chức các môn học bao gồm cả tài liệu hướng dẫn giảng dạy theo chương trình học đổi mới từ 4 năm sang 6 năm. Điểm đặc biệt trong tổ chức nội dung môn học là sự xuất hiện của các môn học “đời sống xã hội” tích hợp các môn giáo dục công dân, lịch sử, địa lý; môn thể dục và sức khoẻ được hợp lại từ hai môn thể dục và sức khoẻ y tế. Đồng thời chương trình cũng chia ra các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn. Tài liệu hướng dẫn giảng dạy các môn học được xây dựng nội dung giảng dạy chính, phương châm giảng dạy, các mục giảng dạy và những lưu ý trong giảng dạy.

Chương trình giáo dục lần thứ nhất (1954 – 1963)

Năm 1948, Chính phủ Đại Hàn dân quốc được thành lập. Dựa trên việc ban hành Luật Giáo dục năm 1949 và do đòi hỏi cấp thiết nên sau khi chính phủ được thành lập thì chương trình giáo dục đầu tiên đã được ban hành. Đây là chương trình giáo dục có tính hệ thống đầu tiên được xây dựng bởi bàn tay của chính người Hàn Quốc nên nó được gọi là Chương trình giáo dục lần thứ nhất. Hàn Quốc đã sử dụng thuật ngữ chương trình môn học thay cho thuật ngữ chương trình giáo dục. Vì vậy, Hàn Quốc gọi đây là thời kỳ nhấn mạnh tới chương trình giáo dục giáo khoa.

Từ những dòng chảy trong chương trình giáo dục tập trung vào kinh nghiệm của Mỹ, lần đầu tiên các hoạt động đặc biệt ngoài các môn học đã được xây dựng và Hàn Quốc đã nhấn mạnh đến một nền giáo dục có sự thay đổi. Hàn Quốc lúc này nhấn mạnh tới nền giáo dục về đạo nghĩa nhằm chống lại những hiện tượng tha hoá về đạo đức do những hỗn loạn của xã hội sau giải phóng và do sự kiện chiến tranh.

Chương trình giáo dục lần thứ hai (1963 – 1973).

Một thời gian dài, sau khi ban hành Chương trình giáo dục lần thứ nhất, để phản ánh được sự thay đổi của đời sống xã hội do phát triển văn hoá và những biến đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế, chương trình giáo dục đã được sửa đổi.
Chương trình giáo dục sửa đổi đã phản ánh một cách đầy đủ những kinh nghiệm tích lũy được từ những tài liệu hướng dẫn giảng dạy mang tính hình thức và rất thô sơ. Không chỉ là các hoạt động môn học mà với ý nghĩa là kế hoạch liên quan tới toàn bộ các hoạt động giáo dục trong nhà trường nên nó được gọi là chương trình giáo dục chứ không phải là chương trình môn học. Hệ thống đơn vị các môn học được đưa vào thực hiện và ở tất cả các trường đã phân loại và tổ chức thực hiện các chương trình về lĩnh vực xã hội và tự nhiên dựa trên sự lựa chọn nghề nghiệp và định hướng tương lai của học sinh.

Chương trình giáo dục lần thứ ba (1973 – 1981)

Năm 1968, Hiến Chương giáo dục được công bố và theo đó nền giáo dục đề cao sự ghi nhớ đặc trưng và tinh thần dân tộc được nhấn mạnh. Để thực hiện mục tiêu này, môn đạo đức dân tộc và môn lịch sử đất nước vốn là những môn học trong bộ môn xã hội đã được tách ra thành các môn độc lập; môn đạo đức công dân được xây dựng là môn học mới và nó được sắp xếp trước môn quốc ngữ.

Thêm vào đó, sau cú sốc năm 1957 về sự kiện Liên Xô phóng tàu vũ trụ Sputnik, chương trình giáo dục đặt trọng tâm chủ đạo vào hệ thống giáo dục nước Mỹ đã được đưa vào thực hiện ở Hàn Quốc và giáo viên buộc phải tập trung giảng dạy các khái niệm cơ bản với khối lượng kiến thức vô cùng nhiều. Điều này đặt ra những yêu cầu ngày càng lớn đối với việc phải cải tiến phương pháp giảng dạy học tập theo hướng để học sinh tự nghiên cứu và tìm tòi. Và để tiếp nhận phương thức này, ở mỗi môn học đều rất coi trọng các khái niệm cơ bản về kiến thức nền của môn học đó. Từ đó đưa ra mô hình tổ chức chương trình giáo dục theo hình xoắn ốc hướng tới việc càng lên lớp cao thì càng phải nâng cao và mở rộng dần các khái niệm cơ bản đồng thời trong phương pháp học có nhấn mạnh tới việc học tập theo hướng tự tìm tòi, nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề.

Chương trình giáo dục lần thứ tư (1981 – 1987)

Chương trình giáo dục lần thứ tư ra đời ở thời điểm quốc gia cộng hoà lần 5 (Hiến pháp thay đổi lần 5) và trong bối cảnh cải cách giáo dục 30/7. Viện phát triển Giáo dục Hàn Quốc được lấy làm trung tâm để cấu thành nên chương trình giáo dục kiểu R & D về phát triển nghiên cứu, đặc biệt chương trình đưa ra mô hình chương trình giáo dục tổng hợp không bị trói buộc bởi xu hướng của chương trình giáo dục thời bấy giờ. Nó khắc phục yếu điểm của chương trình giáo dục lần thứ ba như là: Nội dung quá khó; nội dung lan man; chủ nghĩa phân ngành. Đồng thời cũng nhấn mạnh các điểm về hệ thống hoá giáo dục tinh thần dân tộc; đẩy mạnh giáo dục chuyên ngành, nâng cao giáo dục khoa học kỹ thuật; hợp lý hoá lượng và tiêu chí trong nội dung giáo dục.

Chương trình giáo dục lần thứ năm (1987 – 1992)

Từ xuất phát điểm của quốc gia cộng hoà 5 (Hiến pháp thay đổi lần 5) và bối cảnh chính trị xã hội như biện pháp cải cách giáo dục 30/7 mà chương trình giáo dục lại được sửa đổi. Là cơ quan nghiên cứu chuyên môn, Viện Phát triển Giáo dục Hàn Quốc lại được uỷ thác phát triển đề án sửa đổi mới chương trình giáo dục để hướng đến việc chuyên môn hoá chương trình giáo dục.

Chương trình giáo dục lần thứ sáu (1992 – 1997)

Một số quyền hạn ở cấp quốc gia về chương trình giáo dục được giao
cho cấp sở và nhà trường ở các tỉnh/ thành phố nhằm để hoạch định một thể
chế về phân chia vai trò, trách nhiệm và lúc này việc nâng cao hiệu quả giáo
dục của nhà trường đã bắt đầu được triển khai. Kết quả cho thấy Hàn Quốc đã xây dựng được một chương trình giáo dục có đặc tính riêng của mỗi trường và thuật ngữ “chương trình giáo dục nhà trường” đã bắt đầu được sử dụng chính thức.

Trong các môn học chung thì Bộ Giáo dục chỉ định các môn học bắt buộc chung còn các môn học bắt buộc theo từng chương trình thì do sở giáo dục cấp tỉnh/ thành phố chỉ định; môn học tự chọn theo từng chương trình do nhà trường lựa chọn theo nhu cầu nhằm nâng cao quyền tự chủ của nhà trường và địa phương.

Chương trình giáo dục lần thứ bảy (1997 – 2007)

Để theo kịp thời đại thông tin hoá, quốc tế hoá, với vai trò là cơ quan tư vấn cho tổng thống thì Viện phát triển giáo dục Hàn Quốc dựa trên khung cơ bản về sửa đổi chương trình giáo dục đã tiến hành sửa đổi chương trình giáo dục thành một phương án cải cách giáo dục nhằm xây dựng một thể chế giáo dục mới.
Chương trình giáo dục lần thứ bảy hướng tới một chương trình giáo dục lấy học sinh làm trọng tâm trên cơ sở tự chủ và sáng tạo đã tích hợp chương trình giáo dục của 3 bậc Tiểu học, THCS và THPT thành một chương trình giáo dục đơn nhất và xây dựng thành chương trình giáo dục cơ bản chung quốc dân và chương trình giáo dục tập trung vào tự chọn.

Thời gian 10 năm học từ tiểu học đến lớp 10 THPT được lựa chọn là thời gian giáo dục cơ bản chung quốc dân và chương trình giáo dục đã xây dựng để học sinh có thể học được 10 môn học chung bắt buộc. Chương trình theo từng cấp học được đưa vào áp dụng thực hiện và dựa trên đặc thù của từng cấp giảng dạy cũng như đặc thù của chương trình giáo dục nói chung mà phân loại và triển khai thực hiện theo hướng bổ sung, trọng tâm và phân cấp. Chương trình đã xúc tiến triển khai hoạt động mang tính chủ đạo từ chính bản thân học sinh.

Chương trình giáo dục sửa đổi năm 2007

Trải qua một thời gian dài sau khi tổ chức thực hiện chương trình giáo dục lần thứ bảy, Hàn Quốc đã cải tiến được nội dung giáo dục phù hợp với những thay đổi về mặt xã hội và văn hoá (như áp dụng chế độ làm việc 40 giờ/tuần). Chương trình giáo dục được sửa đổi dựa theo nguyên tắc, quy trình sửa đổi chương trình giáo dục, nó đã duy trì được nguyên tắc và lý luận cơ bản của chương trình giáo dục lần thứ 7 như quán triệt quan điểm bảo đảm tính ổn định của chương trình, giảm thiểu hoá được phạm vi sửa đổi ở mức độ bổ sung những vấn đề tồn tại trên phương diện vận hành... Chương trình giáo dục được sửa đổi vào năm 2007 nên được gọi là “Chương trình giáo dục sửa đổi năm 2007”. Chương trình tập trung vào việc tăng cường quyền tự chủ trong tổ chức và thực hiện chương trình giáo dục ở nhà trường nhằm thực hiện phân chia đơn vị học tập ở từng phân môn nhánh dưới của các hoạt động theo năng lực, đưa chế độ hoàn thành môn học tập trung vào áp dụng để thực hiện được tập trung số giờ học chia cho môn học theo đơn vị học kỳ hay đơn vị năm học. Tích hợp các môn học tự chọn chuyên sâu và các môn học tự chọn chung trong môn học phổ thông để thống nhất thành môn học tự chọn, thống nhất đơn vị hoàn thành là 6 đơn vị (trừ môn kỹ năng mềm 4 đơn vị) để nhằm mục đích phát huy một cách hiệu quả việc điều hành trong nhà trường. Điều chỉnh nhóm 5 môn học tự chọn lên 6 môn, nhóm môn văn thể mỹ được tách ra thành 2 môn riêng gồm thể dục và nghệ thuật hướng tới việc giáo dục con người toàn diện có đủ các phẩm chất trí, đức, tài.

Chương trình giáo dục năm 2009 của Hàn Quốc

Gần đây, Hội Tư vấn Giáo dục Khoa học Kỹ thuật quốc gia – một cơ quan tư vấn của tổng thống đã thảo luận về việc sửa đổi chương trình giáo dục từ năm 2008 và vào tháng 9 năm 2009, đã đề ra “mô hình chương trình giáo dục trong tương lai”.

Căn cứ theo điều này, Bộ Giáo dục đã thông báo chính thức “Chương trình giáo dục sửa đổi năm 2009” vào cuối tháng 12 năm 2009. Chương trình này có một số đặc điểm sau:

– Đổi mới chương trình giáo dục để hướng tới xã hội toàn cầu hoá.

– Hướng tới chương trình giáo dục lấy học sinh và trường học làm trung tâm để khắc phục tính cứng nhắc trong chương trình giáo dục.

– Thực hiện công bằng để nâng cao hiệu quả học tập.

– Tăng cường phát huy nhân cách và tính sáng tạo để phát triển toàn diện.

Điểm cốt lõi trong sửa đổi chương trình giáo dục năm 2009

– Nâng cao tính hợp lý và tính cân bằng trong nội dung giáo dục và trong các hoạt động

– Tập trung hoá, đa dạng hoá và tự chủ trong áp dụng chương trình giáo dục

– Phương hướng xây dựng chương trình giáo dục và hình tượng con người cần hướng tới.

2. Sách giáo khoa của Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, từ năm 1995 nước này bắt đầu xóa bỏ chính sách độc quyền về SGK38. Theo đó, SGK gồm 2 loại:

– Loại thứ nhất là SGK quốc gia do Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc (MOEHRD) tổ chức biên soạn, bao gồm tất cả SGK mầm non và tiểu học, sách Quốc ngữ (Tiếng Hàn), Quốc sử (Lịch sử Hàn Quốc), Đạo đức cho các lớp còn lại.

– Loại thứ hai là SGK do các nhà xuất bản tư nhân tổ chức biên soạn, MOEHRD thẩm định, bao gồm SGK dùng cho các môn học khác ở trung học. Ở THCS, có 32 bộ sách môn Toán, 9 bộ sách môn Khoa học và 10 bộ sách môn Xã hội. Ở THPT, có 28 bộ sách môn Toán (trong đó có 16 bộ cho lớp 10 và 12 bộ cho lớp 11 và 12), 8 bộ sách môn Hoá, 9 bộ sách môn Vật lý, 6 bộ sách môn Lịch sử Hàn Quốc hiện đại, 8 bộ sách môn Sinh học, 8 bộ sách môn Địa lý Hàn Quốc, 8 bộ sách môn Xã hội, 11 bộ sách môn Khoa học, v.v…

Từ năm 2009, các NXB tư nhân được phép tổ chức biên soạn và phát hành SGK THCS và THPT kể cả các môn Quốc ngữ, Quốc sử và Đạo đức. Tất cả SGK tiểu học sẽ do MOEHRD tổ chức biên soạn, ngoại trừ SGK môn Thể dục, Âm nhạc, Nữ công gia chánh và Tiếng Anh dành cho các NXB tư nhân, MOEHRD chỉ kiểm tra và sửa đổi những chỗ cần thiết. Các trường học có thể lựa chọn một số sách không qua thẩm định của nhà nước, trừ SGK các môn Quốc ngữ, Đạo đức, Xã hội, Toán, Khoa học, Kỹ thuật, Âm nhạc, Thể dục. Thậm chí MOEHRD khuyến khích các trường tự biên soạn SGK để càng ngày càng có thêm nhiều người tham gia vào việc biên soạn những cuốn sách có chất lượng cao cho học sinh.

Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc cho biết, nước này đang có kế hoạch thực hiện một quá trình chuyển đổi SGK giấy sang SGK kỹ thuật số trong tất cả các trường học.

Theo nguồn tin từ Chính phủ, đến năm 2015, SGK bằng giấy có thể sẽ biến mất hoàn toàn tại các trường tiểu học và trung học Hàn Quốc. Thay vào đó, tài liệu giáo khoa sẽ được chuyển tải dưới dạng kỹ thuật số. Học sinh chỉ cần học thông qua máy tính hay các thiết bị số khác. Con số 2,23 ngàn tỷ won (khoảng 2,4 tỷ USD) sẽ được Bộ Giáo dục Hàn Quốc dùng đầu tư cho việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cần thiết như mua máy tính cá nhân hay các thiết bị khác đáp ứng cho cuộc chuyển đổi trong vòng bốn năm tới. Theo kế hoạch này, đến trước năm 2014, SGK, sách tham khảo, từ điển hay các tài liệu bằng giấy khác tại các trường tiểu học sẽ được số hoá hoàn toàn, quá trình này mở rộng sang học sinh cấp 2 và 3 trong năm tiếp theo. Chính phủ cho biết đây chính là thời điểm thích hợp nhất cho sự thay đổi lớn trong hệ thống giáo dục đào tạo. Còn trong giai đoạn chuyển tiếp, cả sách in và sách số hoá sẽ cùng lúc được sử dụng.

Hàn Quốc hiện tại cũng đang lên kế hoạch xây dựng các mạng lưới vô tuyến tại tất cả các trường học, cho phép học sinh và giáo viên tiếp cận với các tài liệu học tập tại bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu mà họ muốn thông qua việc sử dụng hệ thống điện toán đám mây, cho phép họ chuyển tải nội dung SGK kỹ thuật số lên máy vi tính, điện thoại hay iPad của mình. “Khi công nghệ thông tin phát triển mạnh và các thiết bị số hoá được ưa chuộng, chúng tôi quyết định số hoá SGK và tài liệu học tập để tạo ra một môi trường trong đó giáo viên và học sinh có thể tham gia một cách hiệu quả hơn vào các bài giảng và hoạt động học tập”, một quan chức của Bộ Giáo dục Hàn Quốc cho biết. SGK số sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho giáo viên trong việc chuẩn bị bài giảng và đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Hơn nữa, một số học sinh không thể đến lớp vì điều kiện thời tiết hay gặp phải các vấn đề khác cũng có thể tiếp tục với việc học ngay tại nhà. “Đối với học sinh, các em có thể tiếp cận những gì các em muốn để học tập bất cứ khi nào. Điều này cải thiện lớn đến hiệu quả học tập của các em.Chúng tôi hy vọng việc số hoá SGK sẽ giúp
hạ thấp chi phí giáo dục của các gia đình cũng như giảm thiểu nhu cầu học thêm của học sinh”, quan chức này khẳng định.

Động thái này của Hàn Quốc nằm trong chiến lược chạy đua với Mỹ về số hoá SGK – mục tiêu mà nhiều nước trên thế giới đều đang muốn hướng đến. Riêng Hàn Quốc, đây còn là một phần của dự án “Trường học thông minh” nằm trong chiến lược “Giáo dục thông minh”, khi nước này được coi là một trong những quốc gia lớn mạnh về kỹ thuật công nghệ. Còn theo công bố của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), học sinh Hàn Quốc đứng thứ nhất về am hiểu các thiết bị kỹ thuật số so với 16 quốc gia đối tác đang là thành viên của OECD. Đó là lý do tại sao học sinh nước này cần một sự thay đổi lớn về giáo dục. Hơn nữa, SGK kỹ thuật số rẻ hơn nhiều so với sách in. Chính phủ hy vọng dự án này sẽ là động lực giúp cho ngành công nghệ thông tin nước này phát triển./.

(Nguyễn Đức Tửu và Nguyễn Xuân Hiếu, Chuyên viên Phòng Giáo dục Trung học, sưu tầm và giới thiệu.)

 

Bản quyền thuộc về Sở giáo dục và Đào tạo Quảng Trị
Địa chỉ: Số 2, Đường Tạ Quang Bửu, TP Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị. Email: bientap@quangtri.edu.vn
Thiết kế bỡi Trung tâm CNTT - Viễn Thông Quảng Trị