Thứ hai, ngày 24 tháng 7 năm 2017
Chào mừng quý vị đến với Cổng thông tin Giáo dục Quảng Trị

 

      Trong văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng có ghi “Coi trọng công tác hướng nghiệp (HN) và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”. Nhưng trên thực tế hiện nay đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập  trong công tác giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho học sinh (HS) phổ thông(PT). Nền kinh tế (KT) thị trường ngày càng phát triển, đòi hỏi công tác GDHN phải có những thay đổi mới về lý luận và thực hành, nhằm tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý, nguồn lực con người có chất lượng cao hơn. Hiện nay, nhiều nội dung trong Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ “về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường” đã không còn phù hợp; Vấn đề đặt ra phải nghiên cứu công tác GDHN trong giai đoạn mới cho học sinh PT.

 

 

 

      Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến một số vấn đề mang tính định hướng GDHN cho học sinh PT ở nước ta trong những năm tới.

 

 

 

 

      I. VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA

 

      GDHN ở nước ta đã được tiến hành nghiên cứu và triển khai khá sớm, từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công tác HN, nhất là HN cho học sinh PT.

 

 

 

 

      Trong những năm 1983-1996 GDHN ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng, được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất. Nhưng từ năm 1997 trở lại đây công tác GDHN cho học sinh PT đã bị coi nhẹ, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước.

 

      Trong những năm gần đây, Nghị quyết 40 của Quốc hội khoá 10; Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001-2010, văn kiện đại hội IX, đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh việc đổi  mới chương trình và sách giáo khoa PT. Vấn đề dạy học công nghệ và GDHN đã được nhiều trường chú trọng hơn, công tác GDHN cho học sinh PT vẫn chưa được các cấp quản lý quan tâm đúng mức. Các cấp bộ Đảng, Chính quyền và xã hội chưa nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của công tác GDHN đối với sự phát triển kinh tế và xã hội. Học để đi thi, học để “làm quan”, không thích làm thợ còn khá nặng nề trong nhân dân ta, đặc biệt là trong học sinh và phụ huynh. Yếu tố tâm lý này có ảnh hưởng rất lớn đến sự định hướng nghề nghiệp tương lai của học sinh sắp ra trường, làm cho chủ trương phân luồng học sinh PT không thực hiện được. Có thể nói rằng, công tác HN cho học sinh PT ở nước ta còn yếu kém, còn cách xa với các nước trong khu vực; chưa đáp ứng được nhiệm vụ chuẩn bị nguồn lực cho công nghiệp hoá.

 

 

 

 

      II. GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

 

      Theo UNESCO, HN là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học có các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp. Ngày nay, người ta đã nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy đủ, mà cần phải chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, xã hội, giáo dục và nghề nghiệp của HS. Một sự thay đổi khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động HN là nó được nhận thức như là một quá trình phát triển, đòi hỏi một cách tiếp cận chương trình chứ không chỉ đơn giản là các cuộc phỏng vấn cá nhân tại các thời điểm quyết định.

 

 

 

      Ở Liên bang Nga HN được thực hiện nhằm mục tiêu:

 

 

 

       - Đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện quan hệ thị trường;

 

 

 

      - Tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người cũng chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động.

 

 

 

      - Không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan trọng nhất được thoả nguyện yêu cầu phát triển của con người trong lao động

 

 

 

 

 

 

      Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vv… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào cấp III, trong đó 70% học sinh theo học loại hình trường PT cơ bản và 30% HS theo hướng học nghề.

 

 

 

      Tại Hàn Quốc, trong  các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình GD. Hết cấp II học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp. Các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn HS theo luồng phổ thông.

 

 

 

 

      Trung Quốc khuyến khích GD suốt đời một cách tích cực. Hiện nay, GD dựa trên cộng đồng đang được phát triển mạnh mẽ. Trong chương trình giảng dạy thường có các môn học  tự chọn với mục tiêu  trang bị cho HS những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để HS có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học.  

 

      Nội dung giáo dục HN trong trường trung học của cộng hoà Pháp được phân hoá theo nhiều phân ban hẹp trong đó phần lớn là các ban kỹ thuật - công nghệ đào tạo kỹ thuật viên. Kế hoạch dạy học ở các chuyên ban kỹ thuật - công nghệ bao gồm nhiều môn văn hoá PT và kỹ thuật nghề nghiệp theo tỷ lệ khoảng 50/50. Việc cải cách chương trình GD công nghệ ở Pháp nhằm hoàn thiện hệ thống GD kỹ thuật công nghệ ở tất cả các bậc học, làm cho nội dung GD công nghệ phù hợp với từng giai đoạn GD và trình độ phát triển khoa học kỹ thuật...

 

 

 

 

      III. ĐỊNH HƯỚNG  GDHN CHO HỌC SINH PT Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM TỚI

 

 

      1. Những vấn đề về nhân lực trong thời kỳ CNH - HĐH

 

      1.1. Trong những năm tới, hệ thống giáo dục Việt Nam có nhiệm vụ chuẩn bị nguồn nhân lực đủ sức chuyển nhanh nền KT nông nghiệp sang nền KT công nghiệp, đồng thời chuyển một số lĩnh vực sản xuất sang KT tri thức. Nền KT phát triển ở mức độ cao sẽ đòi hỏi nền GD cho ra đời những sản phẩm có tầm trí tuệ cao hơn đáp ứng thị trường lao động.

 

 

 

      1.2. Nhu cầu học tập của người dân tăng lên do sự chuyển dịch cơ cấu KT và cơ cấu lao động trong quá trình CNH,  do sự mở rộng thị trường và hội nhập sâu hơn KT Quốc tế. Nhân dân sẽ cấn đến những hình thức học tập rất đa dạng, trong đó có những cơ hội thực hiện được phương thức học tập suốt đời.

 

 

 

      1.3. Yêu cầu về nhân tài ở nước ta là rất cấp bách. Đào tạo, bồi dưỡng nhân tài luôn đi kèm với sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhân tài. Nhiều nước trên thế giới đang thực hiện chính sách thu hút nhân tài.

 

 

 

      1.4. Việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam cần được thực hiện theo tinh thần xã hội hóa, huy động đông đảo các lực lượng xã hội tham gia, để hình thành nguồn nhân lực đa dạng, với nhiều trình độ, nhiều năng lực khác nhau, đáp ứng được những yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của phát triển thị trường, của hội nhập KT quốc tế...

 

 

 

      1.5. Xu thế toàn cầu hóa đang lôi cuốn nhiều nước tham gia, vừa tạo ra những cơ hội và điều kiện phát triển, vừa đặt ra trước các quốc gia những thách thức lớn. Việc gia nhập AFTA và WTO với nhiều thể chế chặt chẽ buộc phải đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao.

 

 

 

 

      2. Định hướng  GDHN cho học sinh phổ thông ở nước ta trong những năm tới

 

      Trước yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực, trong những năm tới, vai trò của công tác HN nói chung và GDHN cho HS PT chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, góp phần làm tốt công tác chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ CNH - HĐH đất nước, vì vậy công tác GDHN cho HSPT cần tập trung vào một số nội dung sau đây:

 

 

 

      2.1. Xây dựng hệ thống văn bản pháp quy về GDHN trong nhà trường PT. Tiếp tục nghiên cứu, rút kinh nghiệm qua 3 năm thí điểm việc đổi mới chương trình PT; đánh giá nghiêm túc thực chất hoạt động GDHN trong nhà trường,  bắt đầu từ nhận thức của các cấp quản lý đến việc tổ chức thực hiện theo chương trình quy định của Bộ GD&ĐT.

 

 

 

      2.2. Đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên chuyên trách về GDHN cho các trường THPT và các trung tâm KTTHHN. Khi tiến hành đổi mới chương trình và thay sách SGK, chúng ta rất thiếu  cán bộ, giáo viên chuyên trách về HN ở các trường PT.

 

 

 

      2.3. Huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia vào công tác GDHN để nhanh chóng xã hội hóa công tác GDHN cho học sinh THPT.

 

 

 

 

      Một trong những nguyên nhân làm cho công tác GDHN cho học sinh PT yếu kém là vấn đề nhận thức của xã hội về công tác này. Mặt khác, nhà nước thiếu ngân sách đầu tư, trong khi các trường THPT lại xem nhẹ và thờ ơ với hoạt động HN. Vì vậy việc vận động các tổ chức đoàn thể, cá nhân cùng tham gia tham gia vào công tác GDHN cho học sinh PT là một giải pháp quan trọng trong những năm tới.

 

      2.4. Tạo ra nhiều hướng phân luồng học sinh sau THCS và THPT:

 

 

 

      Trên thực tế, hiện nay đa số các trường THCN và trường Dạy nghề chỉ tuyển học sinh THPT, do đó  số học sinh đã tốt nghiệp THCS sẽ chỉ có con đường theo học THPT gây sức ép mở rộng hệ thống THPT.

 

 

 

      Trong những năm qua còn có hiện trạng sự mất cân đối trong cơ cấu tuyển sinh ĐH, CĐ và THCN, dẫn tới mất cân đối trong cơ cấu đào tạo và tất yếu dẫn tới mất cân đối trong cơ cấu nguồn nhân lực. Vì vậy trong những năm tới cần chú trọng:

 

 

 

      - Hướng một bộ phận (phân luồng) học sinh THCS vào hệ thống các trường THCN, dạy nghề ở các địa phương.

 

 

 

      - Phát triển loại  trường THPT kỹ thuật ở các địa phương, để tạo nguồn lao động phổ thông.

 

 

 

      2.5. Củng cố, phát triển hệ thống trung tâm KTTH-HN cấp huyện, thị. Một trong những hạn chế lớn nhất hiện nay của các trung tâm KTTH-HN là chưa chú trọng quan tâm phối hợp với các trường trung học để HN cho học sinh. Bởi vậy, trong những năm tới cần phải có sự điều chỉnh hợp lý từ việc bố trí đội ngũ chuyên trách HN, dến việc xây dựng CSVC - thiết bị và cơ chế phối hợp giữa trung tâm với các trường THPT.

 

 

 

 

                                                                   TS. Bùi Việt Phú

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, Nxb giáo dục.

 

 

 

2. Phạm Tất Dong (chủ biên), "Thực trạng và giải pháp phát triển nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông", Hà Nội 2003.

 

 

 

3. Đảng CSVN, Văn  kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX . Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội 2001.

 

 

 

4. Vũ ngọc Hải-Trần Khánh Đức: Hệ thống giáo dục hiện đại những năm đầu thế kỷ XXI - Thế giới và Việt nam . NXB Giáo dục. Hà nội-2003

 

 

 

5. Hội thảo Quốc tế: Đối thoại Pháp - á về các vấn đề và hướng đi cho GDHN tại Việt Nam, Khoa Sư phạm ĐHQG HN & Viện NCQG cộng hòa Pháp, Hà Nội 2005.

 

 

 

6. Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền (2004), "Một số kinh nghiệm về giáo dục phổ thông và hướng nghiệp trên thế giới", Nxb ĐHSP, Hà Nội.

 

 

 

7. Technical and Vocational Education and Training in the Twenty-First Century: New Role and Chalenges for Guidance and Counselling. UNESCO 2002.

 

 


Bản quyền thuộc về Sở giáo dục và Đào tạo Quảng Trị
Địa chỉ: Số 2, Đường Tạ Quang Bửu, TP Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị. Email: bientap@quangtri.edu.vn
Thiết kế bỡi Trung tâm CNTT - Viễn Thông Quảng Trị