Tuesday, 26/03/2019 - 15:03|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử Sở GD & ĐT Quảng Trị
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

SKKN: mỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH 12 ÔN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

  Những năm gần đây nền giáo dục phổ thông nước ta đang từng bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là chuyển từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra đánh giá đánh giá năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề.

  Bên cạnh đó, một thực trạng đáng lo ngại là nhiều học sinh không những không còn đam mê với môn văn mà các em còn hiểu sai ý nghĩa của môn học. Học văn không đơn thuần chỉ để phục vụ cho các kì thi mà văn học còn là món ăn tinh thần giúp các em làm đẹp tâm hồn, sống hữu ích, biết rung động trước cuộc đời và biết yêu thương đồng loại.

   

M. Goorki đã từng nói: Văn học là nhân học. Không đơn thuần học sinh học tốt bộ môn Văn chỉ để phục vụ cho các kỳ thi, mà văn học chính là một món ăn tinh thần giúp các em làm đẹp tâm hồn mình, sống vui vẻ, hữu ích và biết yêu thương con người.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT đang đến gần, làm thế nào để vừa giúp các em yêu thích môn văn đồng thời có thể nâng cao kết quả học tập và chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT quả là một vấn đề quan trọng. Nhất là khi thời gian gần đây Bộ giáo dục và đào tạo ra quyết định số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2014 theo tinh thần đổi mới, thì quả thật đây vừa là cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn đối với cả giáo viên và học sinh bởi thời gian quyết định đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá và ngày thi tốt nghiệp quá cận kề.

Vậy làm thế nào để trong vòng thời gian ngắn có thể giúp học sinh vừa nắm vững kiến thức, kĩ năng môn học, đồng thời có thể tiếp nhận nhanh nhất cách thức đổi mới trong cách kiểm tra đánh giá nhằm giúp các em đạt được kết quả cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014? Chính điều đó đã thôi thúc người viết quyết định lựa chọn đề tài Một số phương pháp giúp học sinh lớp 12  ôn thi trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ Văn.

2. Lịch sử vấn đề

      Nói về vấn đề giúp học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn thì đã có rất nhiều những giảng viên, giáo viên giảng dạy đi trước đã tìm hiểu. Trên báo Giáo dục và thời đại có bài Ôn tập môn văn thi tốt nghiệp như thế nào? Trong bài này người viết đã gợi ý một vài kĩ năng trong cách diễn đạt và một số vấn đề liên quan đến kinh nghiệm sống. Báo Giáo dục Việt Nam cũng đăng tải bài viết Phương pháp ôn thi tốt nghiệp môn Văn của thầy giáo Huỳnh Ngọc Toàn, bài viết hướng học sinh đến những nhóm kiến thức quan trọng, giúp các em nhanh chóng phân loại dạng câu hỏi để chủ động tiếp cận kiến thức.

   Trước yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn của Bộ giáo dục đào tạo, trên báo Kênh tuyển sinh Thạc sĩ Triệu Thị Huệ giáo viên Văn trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, thành phố Hồ Chí Minh với bài viết Ôn thi tốt nghiệp hiệu quả môn Văn đã hướng dẫn các em các tiếp cận một số văn bản ngoài SGK và một số dạng văn mở.  

      Cũng nghiên cứu về vấn đề này, báo Dân trí cũng đưa ra vấn đề Thi tốt nghiệp môn văn trong 120 phút học sinh cần lưu ý điểm gì? Bài viết đã lưu ý giáo viên và học sinh ngoài những văn bản trong SGK cần tìm hiểu một số văn bản ngoài chưởng trình, hình thành hệ thống câu hỏi để học sinh tự cảm nhận văn bản. Riêng với phần làm văn sẽ ra tác phẩm trong SGK nhưng theo tinh thần mở, giáo viên cần chủ động cho học sinh tìm hiểu bằng dạng đề mới…Trên báo điện tử Tuyển sinh 247 cũng đưa ra một vài dạng đề thi thử theo tinh thần đổi mới. Ngoài ra còn có nhiều những công trình nghiên cứu khác nữa cũng liên quan đến vấn đề này.

   Như tôi đã nói ở trên, thời gian đổi mới phương pháp thi tốt nghiệp quá cận kề và đã có một vài bài viết đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, những bài viết đó chưa đưa ra được những phương pháp cụ thể mà còn nói chung chung gần như là chỉ nói về cấu trúc đề thi. Bên cạnh đó, phương pháp ôn tập hiệu quả nhất là phải phù hợp với đối tượng học sinh.  Chính vì vậy với đề tài Một số phương pháp giúp học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn áp dụng cho học sinh miền núi chắc chắn sẽ đưa ra những hướng giải quyết, những phương pháp cụ thể hơn với đối tượng học sinh.

3. Mục đích nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm  

    Từ trước tới nay, đề thi tốt nghiệp THPT vẫn bám vào sách giáo khoa. Nghĩa là với tinh thần học gì thì ra đề đó. Tuy nhiên, qua hội thảo đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn thi tốt nghiệp THPT Bộ giáo dục đào tạo quyết định một phần thi thuộc chương trình ngoài sách giáo khoa nhằm kiểm tra khả năng đọc – hiểu, kỷ năng cảm nhận của học sinh. Với đối tượng là học sinh người dân tộc thiểu số, kỷ năng tự học và cảm nhận còn hạn chế . Chính vì vậy, mục đích nghiên cứu đề tài này của chúng tôi là:

- Đề ra những biện pháp thích hợp với đối tượng học sinh miền núi nhằm đạt hiệu quả cao đối với phần đọc hiểu một văn bản ngoài sách giáo khoa, tìm hiểu những thông tin xã hội nói chung để làm tốt phần viết nghị luận xã hội.

- Tạo cho các em cơ sở tiếp cận các tác phẩm tự nhiên để từ đó có thêm hứng thú với bộ môn ngữ văn.

4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

  4.1  Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của đề tài.

- Đưa ra một số ví dụ thiết thực để đổi mới phương pháp ôn thi tốt nghiệp THPT.

- Tiến hành thực nghiệm đề tài đang nghiên cứu.

- Tổng kết kết quả thực nghiệm. Lấy ý kiến từ học sinh, đồng nghiệp.

  4.2 Phương pháp nghiên cứu

     4.2.1 Các phương pháp chung

  Các phương pháp chung khi tôi thực hiện đề tài này là:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.

- Phương pháp điều tra quan sát.

- Phương pháp tổng kết và đúc rút kinh nghiệm.

- Phương pháp đàm thoại.

    4.2.2 Các biện pháp cụ thể

- Đọc các tài liệu, các bài báo, một số sáng kiến kinh nghiệm khác về phương pháp ôn thi tốt nghiệp.

- Tiến hành ra đề thi cho học sinh tự ôn tập và rèn luyện kỹ năng cảm thụ tác phẩm ở nhà.

- Trực tiếp trao đổi với học sinh, đồng nghiệp về việc đổi mới phương pháp ôn thi tốt nghiệp THPT.

- Tiến hành thi thử sau chương trình học.

5. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu

- Một số tác phẩm ngoài chương trình SGK.

- Vấn đề nóng của xã hội.

- Các tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn 12.

6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

    Nghiên cứu Một số phương pháp giúp học sinh lớp 12 ôn thi  THPTQuốc gia  môn Ngữ văn với đối tượng là học sinh miền núi. Ngưỡng tiếp nhận của các em còn thấp nên để phù hợp với cách đổi mới đề thi tốt nghiệp đề tài đã đưa ra những bước đi, những biện pháp cụ thể, phù hợp.

B. PHẦN NỘI DUNG

1. Thực trạng của vấn đề đặt ra

   1.1 Về phía nội dung chương trình ôn thi tốt nghiệp THPT

- Phần nội dung chương trình Ngữ văn lớp 12 tất cả các tác phẩm đều nằm trong nội dung ôn tập thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên có một số tác phẩm tiêu biểu đặc sắc cần lưu ý trong quá trình ôn thi cho học sinh. Đặc biệt có một số tác phẩm mang tính biểu tượng cao như Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo mang màu sắc tượng trưng, siêu thực; Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu với hình tượng chiếc thuyền mang ẩn ý sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Đó cũng là hai tác phẩm mới được đưa vào chương trình sách giáo khoa sau khi chỉnh lí sách. Để học sinh hiểu được ý nghĩa sâu sắc của văn bản, nhất là với đối tượng học sinh người dân tộc thiểu số thì cũng là một quá trình.

- Những tác phẩm văn học thời kì kháng chiến chống Pháp, thời kì chống Mĩ  đều có điểm chung là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Riêng tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu hướng về đề tài đời tư thế sự và vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt mang quan điểm sống sâu sắc. Tuy nhiên trong quá trình học mặc dù được giáo viên hướng dẫn nhưng không phải học sinh nào cũng nắm được tinh thần chung của tác phẩm.

- Trong chương trình học, ngoài Văn học Việt Nam học sinh còn được học Văn học nước ngoài. Thuốc của Lỗ Tấn với hình tượng Thuốc, Số phận con người của Sô-lô-khốp với tính cách Nga và đoạn trữ tình ngoại đề xúc động, Ông già và biển cả của Hê-minh-uê với hình tượng con cá kiếm, cuộc đi săn của ông lão Xan-ti-a-gô. Văn học nước ngoài sử dụng nhiều hình ảnh tượng trưng và ý nghĩa nhân sinh sâu sắc nên nếu vốn hiểu biết ít sẽ không lĩnh hội được ý nghĩa từ những dụng ý đó.

- Từ năm 2014, trước thực trạng nhiều học sinh không còn đam mê môn Văn, Bộ giáo dục đã mở rộng chương trình thi tốt nghiệp ra ngoài sách giáo khoa, cho học sinh có cơ hội khám phá những tác phẩm mới, đây vừa là cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với cả giáo viên và học sinh. Không chỉ vậy, vốn hiểu biết về kiến thức xã hội cũng được kiểm tra trong kỳ thi tốt nghiệp này điều này đòi hỏi người đọc cần trang bị kiến thức xã hội nóng hổi hằng ngày cho mình.

  1.2  Về phía học sinh

- Chương trình lớp 12 vốn nặng, lại áp lực thi tốt nghiệp nhưng nhiều học sinh lại tỏ ra chễnh mãng việc học. Bên cạnh đó các em lại không hứng thú với môn văn cho nên vẫn chưa chủ động khám phá kiến thức, chưa chủ động lên kế hoạch ôn thi tốt nghiệp cho bản thân. Nhiều học sinh còn không nắm được cốt truyện, thường xuyên xuyên tạc nội dung tác phẩm trong các bài thi, kiểm tra.

   - Phần lớn học sinh trong trường đều là học sinh dân tộc thiểu số, các em gặp vấn đề trong cách diễn đạt suy nghĩ. Đôi khi các em hiểu vấn đề nhưng do vốn từ vựng hạn chế nên không thể hiện hết được cảm nhận của mình. Trong khi đó, để chiếm lĩnh một tác phẩm văn học với đầy đủ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật lại đòi hỏi học sinh phải có năng lực tư duy và tích hợp nhiều vốn kiến thức.

- Học sinh vắng học nhiều cũng là một khó khăn trong quá trình dạy và học. Kiến thức vốn liên thông, xuyên suốt nhưng nhiều học sinh lại thường xuyên vắng học nên bỏ qua nhiều nội dung quan trọng của tác phẩm.

- Bên cạnh đó, theo tinh thần đổi mới kiểm tra đánh giá của Bộ sẽ ra những tác phẩm ngoài sách giáo khoa để kiểm tra kỹ năng đọc hiểu của học sinh. Thời gia đổi mới quá gấp gáp cũng gây không ít tâm lý hoang mang cho học sinh. Một mặt vốn cách học thụ động lại chậm nắm vấn đề nên rèn luyện được kỹ năng tự đọc hiểu trong khoảng thời gian ngắn cũng thật sự khó khăn.

-  Cấu trúc thi tốt nghiệp còn có phần viết nghị luận xã hội. Đây là những kiến thức liên quan đến kỹ năng sống học sinh cần tự chủ động tìm hiểu và tích lũy. Tuy nhiên, một phần do điều kiện gia đình khó khăn, phương tiện truyền thông hạn chế, mặt khác do không chủ ý tiếp thu kiến thức giáo viên truyền đạt qua các giờ học nên để làm tốt câu nghị luận văn học quả không dễ với các em.

  1.3  Về phía giáo viên

- Không chỉ với học sinh mà ngay cả với giáo viên cũng gặp nhiều lung túng và lo lắng trong quá trình ôn thi cho các em vì thời gian đổi mới quá cập rập. Trong khi đó hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp của Bộ thì quá chậm nên ảnh hưởng không ít đến thời gian ôn thi.

- Tiếp cận với những tác phẩm hay, mang nhiều giá trị nhân sinh, nhân đạo sâu sắc nhiều giáo viên tham phần bình mà giành mất phần kích thích khả năng sáng tạo cho của các em.

- Hệ thống câu hỏi trong quá trình ôn thi cũng chưa thật sự đổi mới theo tinh thần đổi mới. Với cấu trúc ra đề thi bằng cách kiểm tra kỹ năng đọc hiểu, ra đề mở đối với phần nghị luận văn học, tuy nhiên nhiều giáo viên vẫn chưa chú ý đến hệ thống câu hỏi theo kiểu mở trong quá trình ôn thi.

- Thời gian ôn thi cũng là vấn đề, tuy nhiên trong quá trình dạy học giáo viên vẫn chưa kết hợp nhuần nhuyễn giữa học và ôn nên cuối phần phụ đạo còn lúng túng về thời gian.

     Những thực trạng trên cho thấy rằng cần có những biện pháp cụ thể, áp dụng triệt để trong giờ ôn thi thì mới có thể đạt được kết quả cao trong kỳ thi tốt nghiệp và cũng phần nào đó giúp học sinh có thêm đam mê hơn với bộ môn Ngữ văn.

2 Tính thuyết phục của đề tài

      Những năm gần đây việc đổi mới phương pháp dạy học văn không còn xa lạ gì đối với giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn. Từ phương pháp dạy thơ trung đại đến nghị luận xã hội hoặc một tác phẩm trữ tình…Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả giáo dục cao thì đòi hỏi phương pháp đó phải phù hợp với đối tượng học sinh. Nhất là đối với học sinh người dân tộc thiểu số, vốn hiểu biết của các em còn hạn chế, khả năng tiếp thu, diễn đạt còn vụng về thì giáo viên cần phải có một phương pháp giảng dạy phù hợp.

      Kỳ thi tốt nghiệp đang đến gần, việc tìm ra phương pháp giúp học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp có hiệu quả là một việc quan trọng. Định hướng cho các em cách tiếp thu kiến thức, bổ trợ kỹ năng cần thiết sẽ giúp các em tự tin chinh phục kiến thức, nhất là khi Bộ giáo dục đang yêu cầu đổi mới khâu kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn thì các em lại cần hơn những phương pháp ôn thi hiệu quả, tích cực.

    Chính vì vậy, khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, bản thân tôi tin rằng đây sẽ là một tài liệu hữu ích để cung cấp cho giáo viên, học sinh nếu muốn tìm hiểu thêm một vài phương pháp ôn thi tốt nghiệp hiệu quả. Và cũng mong những phương pháp dạy tôi đề xuất sẽ giúp đồng nghiệp, học sinh có nhiều ý tưởng hơn để giúp các em không chỉ ôn thi tốt, đam mê môn văn mà còn thông qua văn chương các em sống có cảm xúc và biết yêu thương người hơn.

 3. Một số biện pháp ôn thi tốt nghiệp THPT

      Ôn thi tốt nghiệp THPT đạt được kết quả cao không chỉ là mong muốn riêng của học sinh mà còn cả của giáo viên. Chính vì vậy, phương pháp ôn tập phù hợp thật sự rất quan trọng. Với tinh thần đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nên yêu cầu cần phải đổi mới phương pháp ôn tập.

3.1 Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT

Để hiểu rõ tinh thần đổi mới trong khâu kiểm tra, đánh giá đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn trong năm 2014 như thế nào, chúng ta sẽ cùng so sánh hai cấu trúc thi đề thi tốt nghiệp THPT.

Đề mục

Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT cũ

Cấu trúc đề thi theo tinh thần đổi mới

 

 

 

Câu 1: Từ tái hiện lý thuyết đến kiểm tra kỹ năng đọc - hiểu.

- Câu hỏi lý thuyết thường 2 điểm.

 

 

 

- Nội dung:

  + Tái hiện kiến thức về một giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam và văn học nước ngoài.

  + Ý nghĩa chi tiết, nghệ thuật, nhan đề…tác phẩm.

- Một văn bản ngoài chương trình SGK.

- Câu hỏi nhỏ dưới dạng kiểm tra kỹ năng đọc – hiểu một văn bản ngoài chương trình học

 - Nội dung:

  + Nội dung chính của văn bản, thông tin quan trọng, ý nghĩa của văn bản.

  + Hiểu từ ngữ, cú pháp, chấm câu, hình thức biểu tượng, ký hiệu ngôn ngữ.

  + Nhận diện một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản. Ý nghĩa của những biện pháp tu từ đó?

  + Cảm xúc, suy nghĩ của học sinh sau khi đọc văn bản đó.

 

 

 

Câu 2: Nghị luận xã hội

- Thường là câu 3 điểm.

 

 

 

 

- Nội dung: Vận dụng kiến thức hiểu biết về xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn (khoảng 400 từ) với hai dạng đề: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hoặc nghị luận về một hiện tượng đời sống.

- Tự luận, theo hướng mở, tích hợp liên môn nhằm kiểm tra vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống, khả năng giải quyết vấn đề của học sinh.

- Nội dung: Những sự kiện nóng hổi của xã hội, tư tưởng đạo đức, tình yêu thương con người, tình yêu và lòng tự hào về quê hương xứ sở…

 

 

 

 

Câu 3: Nghị luận văn học (Dạng đề mở)

- Vận dụng khả năng đọc – hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luận văn học, phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ hoặc một tác phẩm văn xuôi (đặt mỗi tác phẩm trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể). - Gồm:

a. Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.

b. Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi.

- Với nghị luận văn học này, năm 2014 vẫn sử dụng ngữ liệu là tác phẩm hoặc trích đoạn nêu trong chương trình và sách giáo khoa nhưng đổi mới cách nêu vấn đề.

- Bài làm được đánh giá dựa vào chuẩn kĩ năng viết nói chung và chuẩn kĩ năng viết kiểu văn bản nói riêng mà đề bài yêu cầu phù hợp với giá trị nhân văn, chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Không áp đặt nội dung chi tiết cần đạt.

     Nhằm mục đích khắc phục hiện tượng học tủ, học thuộc những bài làm văn mẫu, sao chép nguyên si những tài liệu gốc… thì việc đổi mới trong cách ra đề thi từ yêu cầu học sinh phải phân tích đến cảm nhận, suy nghĩ sẽ là một bước tiến quan trọng. Điểm mới đáng chú ý trong cách ra đề môn ngữ văn là ở chỗ chuyển từ việc yêu cầu học sinh học thuộc lòng, ghi nhớ máy móc những nội dung, văn bản có trong sách giáo khoa sang việc vận dụng kiến thức, kỹ năng vào việc đọc hiểu một hoặc một số văn bản không có trong sách giáo khoa nhưng có cùng đặc điểm về thể loại, đề tài, chủ đề… Cách kiểm tra này sẽ đánh giá khách quan và chính xác hơn năng lực đọc hiểu của học sinh; tránh được hiện tượng học tủ, học vẹt, ngoài ra với cách ra đề mở các em có thể tự do phát biểu cảm nhận của mình, đây cũng là cách để cũng cố tình yêu môn Văn của học sinh.

    Bên cạnh đó, đề thi mới vẫn coi trọng kỹ năng viết. Đề thi sẽ đưa vào những câu hỏi theo hướng “mở” và tích hợp kiến thức liên môn chứ không phải câu hỏi “đóng” (và cả đáp án “đóng”), yêu cầu học sinh ghi nhớ kiến thức và làm bài theo những khuôn mẫu có sẵn như trước. Với cấu trúc như trên, dung lượng đề thi năm nay sẽ giảm bớt để phù hợp với thời gian làm bài là 120 phút. Tuy nhiên, rèn kĩ năng cảm nhận, viết như thế nào để vừa vặn thời gian cũng là một thao tác cần rèn luyện.

3.2  Khâu chuẩn bị

     Việc Bộ giáo dục đổi mới cách ra đề thi tốt nghiệp THPT khiến không ít giáo viên và học sinh hoang mang, lúng túng nhất là trong thời điểm gấp rút khi kỳ thi tốt nghiệp đang cận kề. Vậy, để có thể có được kết quả bài làm cao nhất cả giáo viên và học sinh cần thực hiện tốt những khâu chuẩn bị. Bởi khâu chuẩn bị tốt sẽ tạo tâm thế tiếp nhận cho học sinh.

- Về phía giáo viên:

 + Chủ động tìm hiểu, tiếp cận phương pháp, cách thức ra đề thi tốt nghiệp mới. Nắm rõ những chỉ đạo của cấp trên sát sao để trấn an tinh thần của học sinh, đồng thời cung cấp cho các em những hiểu biết đầu tiên về cách ra đề thi.

+ Sưu tầm những bài thơ, đoạn văn, văn bản liên quan đến những nhà thơ, nhà văn trong chương trình học, định hướng cho các em bằng các ra những đề thi tương tự dưới dạng đọc hiểu và đề mở (đối với phần nghị luận văn học).

+  Giao bài tập cho các em về nhà bằng cách tự cảm nhận một văn bản và kiểm tra lại khoảng thời gian 15 phút đầu giờ học.

- Về phía học sinh:

+ Nắm được cấu trúc đề, cách thức đổi mới đề thi tốt nghiệp, tự tạo cho mình tâm lý tiếp nhận.

+ Tự học, tự cảm nhận văn bản dưới định hướng của giáo viên.

+ Thường xuyên theo dõi các thông tin xã hội ở các kênh truyền thông để trang bị những kiến thức xã hội cho phần nghị luận xã hội.

+ Nắm chắc cốt truyện, thuộc lòng thơ, hiểu ý nghĩa của những chi tiết quan trọng trong văn bản truyện.

    1.  Đối với hoạt động dạy học trên lớp

Phương pháp học, ôn thi thể hiện rõ nhất ở khâu chuẩn bị bài và tiến trình bài học trên lớp. Thành công của tiết dạy, cũng là chất lượng của bài học tùy thuộc vào phương pháp lên lớp của giáo viên. Giáo viên cần tỉ mỉ trong từng thiết kế bài dạy. Muốn như vậy, đối với mỗi dạng cấu trúc đề thi giáo viên cần có phương pháp ôn thi phù hợp.

3.3.1 Với dạng câu hỏi đọc – hiểu

   Giáo sư Trần Đình Sử đã từng khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn Văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn học”.

Do đó, có thể nói rèn luyện năng lực, kĩ năng đọc – hiểu văn bản cho học sinh là một trong những yêu cầu quan trọng, khoa học và đúng đắn để các em tiếp cận môn Ngữ văn, đánh thức tình yêu đối với môn Văn và có khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức đã học trong nhà trường vào cuộc sống.

    Với dạng câu hỏi đọc – hiểu yêu cầu học sinh đọc và trả lời các câu hỏi về các loại văn bản, bao gồm cả văn bản nhật dụng, văn bản hành chính, văn bản toán học, văn bản khoa học…Ngoài những câu hỏi về nội dung, thông tin … trong văn bản, thì đề thi còn có những câu hỏi mở, đưa ra những tình huống trong cuộc sống để học sinh thể hiện quan điểm cá nhân, yêu cầu các em phải suy ngẫm, đưa ra quan điểm, nhận xét, ý kiến của cá nhân, phải phân tích sâu, thuyết phục. Vậy muốn làm tốt các em cần rèn luyện tốt kĩ năng đọc – hiểu. Các câu hỏi đọc – hiểu thường tập trung vào các khía cạnh sau:

     3.3.1.1 Nắm nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa của văn bản, tên văn bản

    Cho ví dụ sau:  Anh / chị hãy đọc ngữ liệu sau:

 “Ở người lớn tuổi ít vận động cơ bắp, nếu chế độ ăn giàu chất colesteron (thịt, trứng, sữa...) sẽ có nhiều nguy cơ bị bệnh xơ vữa động mạch. Ở bệnh này, colesteron ngấm vào thành mạch kèm theo các ion canxi làm cho mạch bị hẹp lại, không còn nhẵn như trước, xơ cứng và vữa ra.

    Động mạch xơ vữa làm cho sự vận chuyển máu trong mạch khó khăn, tiểu cầu dễ bị vỡ và hình thành cục máu đông gây tắc mạch. Động mạch xơ vữa còn dễ bị vỡ gây các tai biến trầm trọng như xuất huyết dạ dày, xuất huyết não, thậm chí gây chết người”.

                                                                   (Sinh học - lớp 8. NXB Giáo Dục 2007)

Cho biết: Văn bản sau nói về vấn đề gì ? Đặt tên cho văn bản.

    Đối với dạng câu hỏi này, các em cần đọc kỹ văn bản, tìm xem trong đó từ ngữ nào được lặp đi lặp lại. Xét nội dung của nó nói về điều gì ? Xác định được nội dung rồi đặt tên cho văn bản. Với dạng câu hỏi đặt tên cho văn bản giáo viên cần lưu ý cho học sinh đây là dạng câu hỏi “ăn” điểm, giúp các em tránh được điểm chết (bài làm 1 điểm là điểm chết) nên nhất định không được bỏ qua câu này.

     Với ví dụ trên, ta thấy: đoạn văn nói đến căn bệnh xơ vữa động mạch và nguyên nhân dẫn đến bệnh xơ vữa động mạch. Vì vậy ta có thể đặt tên cho đoạn văn bản đó là: “Bệnh xơ vữa động mạch” hoặc “Đề phòng với xơ vữa động mạch”.

     3.3.1.2 Với dạng câu hỏi kiểm tra kiến thức Tiếng Việt

     Câu hỏi đọc – hiểu còn kiểm tra kiến thức Tiếng Việt. Kiểm tra những hiểu biết của các em về từ ngữ, cú pháp, chấm câu, cấu trúc, thể loại văn bản... Dạng đề này thường cho một đoạn văn có sai sót và cho học sinh nhận biết từ đó trả lời các câu hỏi.

      Đọc ví dụ sau: Đây là một đoạn văn nháp, trong đó còn mắc phải một số lỗi về ngữ pháp, chính tả, dùng từ, logic... Anh, chị hãy chỉ ra những sai sót đó.

Đoạn văn nháp: “... cái nhìn của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên là một sinh thể có linh hồn với những tính cách đối địch: vừa hung bạo, vừa dữ rằn. Đây là lối nhân cách hóa những đặc điểm vốn có của giòng sông thiên nhiên mà chực quan có thể nhìn thấy”.

    Với đề bài trên, học sinh cần chỉ ra được những lỗi sai trong đoạn văn và gọi đúng tên những lỗi sai đó:

- Sai ngữ pháp: Câu thứ nhất trong đoạn văn.

- Sai chính tả: Dữ rằn, giòng sông, chực quan.

- Dùng từ sai: Đối địch.

- Sai logic: Vừa hung bạo, vừa dữ dằn.

  Để làm tốt câu hỏi này, học sinh cần đọc kĩ văn bản, quan sát kĩ để nhận ra những lỗi sai về về từ ngữ, cấu trúc.

     3.3.1.3 Dạng tìm ra một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và tác dụng của chúng

      Với dạng câu hỏi này các em cần ôn lại kiến thức về các biện pháp tu từ từ vựng, khi nắm chắc các biện pháp nghệ thuật này học sinh sẽ dễ nhận diện chugs trong một văn bản.

- So sánh: Đối chiếu sự vật này với sự vật khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm.

- Ẩn dụ: Gọi tên sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm.

- Nhân hóa: Cách gọi tả vật, đồ vật..v.v bằng những từ ngữ vốn dùng cho con người làm cho thế giới vật, đồ vật ... trở nên gần gũi biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.

- Hoán dụ: Gọi tên sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó.

- Nói quá: Biện pháp tu từ phóng đại mức độ qui mô tính chất của sự vật hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng tính biểu cảm.

- Nói giảm nói tránh: Dùng cách diễn đạt tế nhị uyển chuyển tránh gây cảm giác phản cảm và tránh thô tục thiếu lịch sự.

- Điệp ngữ: Lặp lại từ ngữ hoặc cả câu để làm nối bật ý gây cảm xúc mạnh.

- Chơi chữ: Cách lợi dụng đặc sắc về âm và về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm hài hước.

   Cho ví dụ sau: Anh/ chị hãy chỉ ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc và tác dụng của chúng trong đoạn thơ sau:

“Chúng đem bom ngàn cân

Dội lên trang giấy trắng

Mỏng như một ánh trăng ngần

Hiền như lá mọc mùa xuân”

                     (Trang giấy học trò - Chính Hữu)

     Ở ngữ liệu trên tác giả Chính Hữu đã sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, đối lập và so sánh. Ẩn dụ: Hình ảnh trang giấy trắng chỉ sự ngây thơ trong sáng của trẻ nhỏ; Đối lập: bom nghìn cân với trang giấy mỏng manh; So sánh: Trang giấy mỏng như…, hiền như…Tác dụng nhằm khắc họa sự tàn khốc của chiến tranh và tội ác của kẻ thù; lòng căm giận và thương cảm của tác giả.

    3.3.1.4 Dạng nhận diện phong cách ngôn ngữ tiếng Việt

  Ngoài những dạng câu hỏi trên, câu hỏi đọc – hiểu còn kiểm tra kĩ năng nhận diện phong cách ngôn ngữ của học sinh. Chính vì thế, học sinh cần khái quát lại 6 phong cách ngôn ngữ văn bản đã được học từ chương trình Ngữ văn 10 đến Ngữ văn 12. Mỗi một phong cách ngôn ngữ cần nắm được đặc trưng riêng, văn bản ngôn ngữ của nó. Dưới đây là bản thống kê:

 

 

Tên các phong cách ngôn ngữ và các thể loại văn bản tiêu biểu cho từng phong cách.

 

PCNN

Sinh hoạt

PCNN

nghệ thuật

PCNN

báo chí

PCNN

chính luận

PCNN

khoa học

PCNN

hành chính

 

 

Thể loại văn bản tiêu biểu

-Dạng nói (độc thoại, đối thoại)

-Dạng viết (nhật kí, hồi ức cá nhân)

-Dạng lời nói tái hiện (trong tác phẩm văn học)

-Thơ ca, hò vè.

-Truyện, tiểu thuyết, kí, kịch bản

- Thể loại chính: Bản tin, Phóng sự…

- Ngoài ra: thư bạn đọc, phỏng vấn, quảng cáo, bình luận thời sự,…

-Cương lĩnh

- Tuyên bố. Tuyên ngôn, lời kêu gọi, hiệu triệu.

-Các bài bình luận, xã luận báo cáo

- Các loại văn bản khoa học chuyên sâu.

- Các văn bản dùng để giảng dạy các môn KH giáo trình, thiết kế bài dạy.

- Các văn bản phổ biến khoa học.

-Nghị định, thông tư, thông cáo…

-Giấy chứng nhận, văn bằng, chứng chỉ, giấy khai sinh,…

-Đơn, bản khai, báo cáo, biên bản,…

 

Tên các phong cách ngôn ngữ và đặc trưng cơ bản của từng phong cách

 

PCNN

Sinh hoạt

PCNN

nghệ thuật

PCNN

báo chí

PCNN

chính luận

PCNN

khoa học

PCNN

hành chính

 

Đặc trưng cơ bản

- Tính cụ thể

-Tính cảm xúc.

- Tính cá thể

 

-Tính hình tượng.

-Tính truyền cảm.

-Tính cá thể hóa.

-Tính thông tin thời sự.

-Tính ngắn gọn.

-Tính sinh động, hấp dẫn.

- Tính công khai về quan điểm chính trị.

- Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận.

- Tính truyền cảm, thuyết phục.

-Tính trừu tượng, khái quát.

-Tính lí trí, lôgíc.

-Tính phi cá thể.

-Tính khuôn mẫu.

-Tính minh xác.

-Tính công vụ.

    Một điểm nữa cần lưu ý các em – đây cũng là một cách để các em dễ nhận diện phong cách ngôn ngữ văn bản. Khi đọc đề cần chú ý đến nguồn gốc, xuất xứ của văn bản (ngữ liệu), các em sẽ dễ dàng nhận ra phong cách ngôn ngữ của văn bản đó.

Cho ví dụ sau: Anh / chị hãy đọc ngữ liệu sau và cho biết ngữ liệu thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Ngữ liệu 1:

“Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt,
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông...”

                                        (Sao chiến thắng – Chế Lan Viên)

     Ngữ liệu 2:  “Việc mà Trung Quốc đưa công cụ là giàn khoan HD981 vào vùng biển đặc quyền của Việt Nam mà không được sự đồng ý của Nhà nước Việt Nam là vi phạm luật pháp quốc tế, cụ thể là vi phạm Công ước Liên hợp quốc luật biển năm 1982 mà Trung Quốc là một bên đã kí kết. (Theo Báo Dân trí)

     Như vậy, căn cứ vào ngôn ngữ văn bản, dạng văn bản và nguồn gốc của ngữ liệu ta có thể xác định được phong cách ngôn ngữ dễ dàng. Ngữ liệu 1 là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, ở ngữ liệu 2 là phong cách ngôn ngữ báo chí.

   Cuối cùng, ngoài những dạng câu hỏi trên học sinh cần lưu ý, với mỗi ngữ liệu đọc – hiểu, ở câu hỏi cuối  thì đề thi còn có những câu hỏi mở, thường đưa ra những tình huống trong cuộc sống để học sinh thể hiện quan điểm cá nhân, yêu cầu các em phải suy ngẫm, đưa ra quan điểm, nhận xét, ý kiến của cá nhân, thể hiện quan điểm, lập trường tư tưởng của mình. Ở phần này, để làm tốt, các em cần lưu ý, mọi ý kiến, suy nghĩ, quan điểm sống đưa ra phải bám vào ngữ liệu gốc, bám vào chủ đề của văn bản để tránh xa đề lạc đề.

3.3.2 Với dạng đề nghị luận xã hội

      Năm 2014 đổi mới cách ra đề thi tốt nghiệp nhưng nhìn chung phần nghị luận xã hội vẫn được giữ nguyên. Nên học sinh vẫn không bỡ ngỡ lắm trước dạng đề thi này. Vậy, để làm tốt dạng này đầu tiên yêu cầu học sinh phải nắm chắc, biết thế nào là nghị xã luận xã hội, dàn ý chung của kiểu bài này.

   3.3.2.1 Nắm rõ dàn ý chung của bài văn nghị luận xã hội

* Mở bài
- Dẫn dắt vấn đề.
- Nêu vấn đề.
- Trích dẫn ý kiến, nhận định (nếu có).
* Thân bài
Sử dụng các thao tác đã học để nghị luận:

 - Giải thích vấn đề

    + Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

    + Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

    + Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội dung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập.

-  Phân tích và chứng minh các khía cạnh của vấn đề: Bản chất của thao tác này là nhìn vấn đề dưới nhiều góc độ; dùng các luận cứ, luận chứng để làm sáng tỏ bản chất của vấn đề.

- Bình luận, đánh giá (bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến…) vấn đề:

+ Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng – sai, ưu – nhược điểm của vấn đề.

+ Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm…

  + Đề xuất giải pháp.

* Kết bài
- Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài.
- Thông điệp chung tới mọi người.

  Tuy nhiên, trên đây chỉ là dạng dàn ý chung của kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh không nên rập khuôn, máy móc, mà tùy theo từng kiểu đề bài khác nhau các em cần có sự vận dụng linh hoạt để phù hợp với dạng đề đồng thời đạt được hiệu quả cao.

   3.3.2.2 Tích lũy kiến thức và kĩ năng sống

     Vì đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số, điều kiện sinh sống của các em còn nhiều thiếu thốn, kinh tế gia đình còn gặp nhiều khó khăn, cho nên việc tích lũy kiến thức xã hội từ kênh thông tin truyền thông còn hạn chế. Đó cũng chính là khó khăn giáo viên gặp phải trong công tác giảng dạy

 Chính vì vậy, phương pháp đơn giản nhất để giáo viên cung cấp thông tin, các vấn đề xã hội nóng hổi cho các em là thường xuyên lồng ghép các mẫu tin trong các tiết học chính khóa, ngoài ra trong giờ học tự chọn, giáo viên cũng chọn lọc những thông tin tiêu biểu để truyền đạt đến các em. Một phương pháp nữa là trong những giờ sinh hoạt 15 phút, cho học sinh đọc báo hoặc những mẫu chuyện về những nhân vật tiêu biểu nhằm giúp học sinh phần nào đó hình dung được vấn đề.

  Văn nghị luận xã hội khác với nghị luận văn học ở chỗ nó là những kiến thức được tích lũy và lấy ra từ cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, học sinh cần tìm kiếm, học hỏi và nắm bắt thông tin nhanh chóng. Muốn vậy học sinh cần khai thác thông tin trên báo, đài; ghi chép lại những nhân chứng, bài học, tình huống hay và có ý nghĩa trong cuộc sống để làm tư liệu dẫn chứng cho bài làm. Với dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội thì thường đề cập tới nhiều vấn đề trong cuộc sống hằng ngày và mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người như: gian lận trong thi cử, vấn đề tai nạn giao thông, bạo lực học đường, quan điểm về sống thử, văn hóa thần tượng,… Có thể nói, đây là dạng chung mà nhiều năm gần đây Bộ Giáo dục đã hướng đến để học sinh tiếp cận. Để làm dạng bài này đạt kết quả cao, đòi hỏi thí sinh phải có vốn hiểu biết nhất định về đời sống xã hội để vận dụng vào bài làm.

Điều quan trọng là các em phải biết chọn lọc thông tin tiêu biểu để nhuần nhuyễn vận dụng vào bài làm, linh hoạt trong từng dạng đề bài.

  3.3.2.3 Một số lưu ý

   Kiểu bài nghị luận xã hội là kiểu bài bắt buộc trong chương trình thi, nhưng lại không có những bài học sẵn như nghị luận văn học, để làm tốt câu hỏi này học sinh lưu ý cần phải nắm vững các vấn đề sau:

- Phải biết phát huy mọi loại kiến thức, trong nhà trường cũng như trong cuộc sống để so sánh, phát triển, vận dụng vào bài viết sao cho phong phú, sâu sắc, đầy đủ, cô đúc nhất.

-  Phải chủ động, mạnh dạn trong khi viết bài, vì không giống với nghị luận văn học, bài nghị luận xã hội hoàn toàn buộc người viết phải chủ động đề xuất chính kiến của mình, có thể đúng hay chưa đúng, được số đông chấp nhận hay không chấp nhận, miễn là nó thuyết phục được người đọc bằng những lí lẽ xác đáng.

- Dạng câu hỏi nghị luận xã hội chỉ được cho tối đa 3 điểm, nên dung lượng bài viết cũng không nên quá dài. Trong yêu cầu cụ thể, đề thi có thể ghi rõ bài viết không vượt quá 600 từ, nghĩa là với khổ giấy thi được sử dụng chính thức như hiện nay, chỉ cần không quá 2 trang, viết ngắn quả là khó hơn viết dài, nên các em cần phải chú ý làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào kể lể, giải thích vấn đề không cần thiết. Trên cơ sở dàn ý, học sinh cần viết và trình bày  ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao.

   Cuối cùng của bài văn nghị luận xã hội, cũng là điều quan trọng, học sinh cần bày tỏ chứng kiến của mình, có lập trường vững vàng trước những vấn đề xã hội nhạy cảm, nóng hổi. Và hơn hết, thông qua bài làm văn đó em rút ra được thông điệp gì từ cuộc sống để từ đó liên hệ với bản thân trong cuộc sống hiện nay.

 3.3.3 Với dạng đề nghị luận văn học

 Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn, Bộ Giáo dục đổi mới đề thi môn Ngữ văn tốt nghiệp THPT. Ngoài đổi mới dạng câu hỏi đọc – hiểu thì phần nghị luận văn học cũng được quan tâm. 

Nội dung thi vẫn nằm trong chương trình sách giáo khoa, tuy nhiên câu hỏi được ra dưới dạng “mở” và tích hợp chứ không “đóng” như đề thi các năm. Với cách ra đề thi như thế này thật sự sẽ giúp các em có thể phát huy khả năng sáng tạo, tưởng tượng của các em và thông qua đó giáo viên cũng có thể kiểm tra được năng lực của học sinh.

Để làm tốt phần nghị luận văn học này, các em cần chú ý đến những dạng đề mở bên cạnh đó nắm được tinh thần chung của các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12.

  3.3.3.1 Một số dạng đề nghị luận văn học

  Đầu tiên, các em cần xác định được tuy là đổi mới, là mở, nhưng học sinh cũng phải bám vào nội dung chính của tác phẩm văn học. Nói cách khác vẫn là thứ rượu cũ nhưng được thay bằng một chiếc bình mới. Chiếc bình đó chính là sự thay đổi về hình thức, cách thức hỏi. Thay vì trước đây, trước một tác phẩm văn học người ta thường yêu cầu các em phân tích văn bản, thì giờ thao tác phân tích được thay bằng cảm nhận, suy nghĩ để học sinh có thể thuận tiện bày tỏ cảm nhận, suy nghĩ riêng của mình.

 Vậy, để giải quyết tốt dạng đề mới này học sinh cần hiểu được chương trình học. Xác định đúng thời kì của từng tác phẩm và trong thời kì đó những tác phẩm nào cùng chung một chủ đề. Giải quyết tốt phần kiến thức cơ bản đó, nắm được chủ đề chính của văn bản các em sẽ dễ dàng nhận diện được tác phẩm khi đọc xong đề bài.

TPVH thời kì chống Pháp

TPVH thời kì chống Mĩ

Sau năm 1975

Tây Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu): Vẻ đẹp tâm hồn của người lính và nhân dân trong kháng chiến.

Sóng (Xuân Quỳnh): Tiếng lòng của người phụ nữ đang yêu.

Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu): Đề tài đời tư, thế sự, mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc đời.

Đất nước (Đọc thêm của Nguyễn Đình Thi): Ca ngợi đất nước trong niềm vui chiến thắng

Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm): Hình tượng đất nước, tư tưởng mới mẻ: Đất Nước của nhân dân.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ): Quan điểm sống tích cực, tiến bộ.

Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Vợ nhặt (Kim Lân): Thân phận của con người, niềm tin của con người vào cuộc đời mới.

Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi): Vẻ đẹp anh hùng của con người trong chiến tranh chiến đấu.

Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo): Hình tượng Lor-ca, tiếng đàn, người nghệ sĩ tranh đấu cho tự do và nghệ thuật.

Việc xác định được thời gian ra đời của văn bản sẽ giúp các em tránh được sự lúng túng khi gặp những dạng đề mở sau:

Vẻ đẹp của con người Việt Đề bài 1:Nam trong tác phẩm văn học được ở chương trình Ngữ văn 12. Với đề bài này, học sinh có thể tự do lựa chọn tác phẩm mình yêu thích để thể hiện tài năng sáng tạo của mình. Đề bài cũng không yêu cầu một tác phẩm nên học sinh phải biết kết hợp, tích hợp kiến thức khi cảm nhận hai hay nhiều nhân vật, tác phẩm. Về vẻ đẹp của con người Việt Nam thì các em dễ dàng xác định qua bảng thống kê trên. Đó là vẻ đẹp anh hùng của con người trong chiến tranh các em có thể chọn trong số những tác phẩm sau: Tây Tiến, Việt Bắc, Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình để cảm nhận. Ngoài ra, đó còn là vẻ đẹp của con người trong đời sống lao động thường ngày, các em có thể lựa chọn vẻ đẹp của tình mẫu tử với người đàn bà hàng chài, bà cụ Tứ; hoặc vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật Thị; sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị….

Đề bài 2: Một tác phẩm anh/chị yêu thích trong kháng chiến chống Pháp. Đề bài này lại khác, yêu cầu một tác phẩm trong thời kì kháng chiến chống Pháp, với bảng thống kê trên thì các em có thể dễ dàng lựa chọn: Tây Tiến của Quang Dũng hoặc là Việt Bắc của Tố Hữu…

Đề bài 3: Về một nhân vật/ một tác phẩm anh chị yêu thích trong chương trình Ngữ văn 12. Đề bài này thì các em có thể chọn bất cứ nhân vật nào, tác phẩm nào thuộc chương trình Ngữ văn 12 mà các em yêu thích. Các em cũng tiến hành làm bài như bình thường, tuy nhiên các em cần lí giải được nguyên nhân vì sao mình yêu thích nhân vật, tác phẩm đó (có thể là em ấn tượng, phải lòng, ngưỡng mộ hoặc có thể là giá trị nhân sinh, nhân văn mà nhân vật, tác phẩm đưa lại); bên cạnh đó thông qua nhân vật, tác phẩm đó em rút ra được bài học gì cho bản thân và muốn gửi đến bức thông điệp gì cho người đọc.

Nếu đề bài yêu cầu học sinh hóa thân vào nhân vật để kể lại câu chuyện cuộc đời mình thì các em cần chú ý đến ngôi kể. Lúc này người kể chuyện xưng tôi. Để làm tốt đề bài này thì trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể đổi mới cách kiểm tra bài cũ. Thay vì yêu cầu các em lên bảng tóm tắt lại tác phẩm, thì có thể khiến các em hứng thú với văn bản văn học bằng cách cho các em hóa thân vào nhân vật các em yêu thích để kể về cuộc đời của nhân vật chính nào đó trong truyện. Ví dụ khi kể về cuộc đời Mị trong Vợ chồng A Phủ, không nhất thiết các em phải hóa thân vào Mị mói có thể kể lại cuộc đời của nhân vật này, các em có thể hóa thân thành nhân vật A Sử, A Phủ. Sự tươi mới ở những điểm nhìn khác nhau có thể tạo ra được món ăn lạ để kích thích các em nhớ lâu cốt truyện và đam mê văn học. Hoặc tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, các em có thể nhập thân vào gã đàn ông, chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng để kể về cuộc đời người đàn bà hàng chài. Chắc chắn, với góc nhìn khác nhau của từng nhân vật các em sẽ có những cách lí giải riêng, hợp lí khác nhau để thể hiện cách nhìn của mình về nhân vật được nói đến.

  Bên cạnh đó, đề bài có thể là đưa ra những nhận xét, đánh giá, bình luận của những nhà nghiên cứu phê bình và yêu cầu học sinh trình bày suy nghĩ. Với đề bài này, các em cần bám sát vào yêu cầu của đề bài và lời nhận xét, đánh giá…để từ đó trình bày suy nghĩ của mình.

  Chỉ cần các em tỉnh táo đọc kĩ đề, nắm chắc cốt truyện và chú ý trong kĩ năng diễn đạt, trình bày thì các em thừa sức để sáng tạo trong dạng đề mở này.

3.3.3.2 Một số lưu ý

Viết được bài văn nghị luận văn học hay không phải là chuyện một sớm một chiều. Thao tác này được các em rèn luyện, bổ túc xuyên suốt những cấp học, tự bản thân đúc rút kinh nghiệm sau mỗi giờ trả bài, tự hình thành phương pháp khi đọc nhiều sách tham khảo. Bên cạnh đó, để làm tốt bài văn này các em cần lưu ý những điểm sau:

- Nghiêm túc dành thời gian cho thao tác đọc đề. Cần tìm ra những từ chìa khóa, yêu cầu của đề bài. Bởi đó sẽ quyết định cách viết, cách vào bài ấn tượng như thế nào. Mỗi đề bài đều có một bối cảnh riêng, các em phải đọc kĩ đề và tưởng tượng ra bối cảnh đề bài yêu cầu để tránh trường hợp xa đề. Chẳng hạn với đề bài thế này: “Trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ văn học với chủ đề 60 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, em hãy hóa thân vào một nhân vật trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ để kể lại cuộc đời đầy biến cố, thăng trầm của Mị”.  Như vậy, bối cảnh của đề bài chính là trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ văn học với một chủ đề cụ thể. Các em phải tưởng tượng ra, mình là thành viên của câu lạc bộ rồi từ đó xác định được cách dẫn chuyện thế nào cho hấp dẫn và cuốn hút người nghe, người đọc.

- Nắm chắc cốt truyện. Việc các em nắm được cốt truyện chẳng khác gì các em bị lạc trong sa mạc nhưng gặp được một vũng nước mát, các em có thể làm bài mà không lo tới việc xuyên tác tác phẩm. Muốn nắm được cốt truyện các em cần đọc kĩ tác phẩm, nhân vật, chi tiết quan trọng.

- Thuộc lòng thơ. Đây là thao tác mà học sinh chủ quan nhất. Bởi trong dạng đề thi cũ, người ra đề thường cho một đoạn thơ và ghi luôn đoạn thơ đó trên đề. Chính vì vậy học sinh chủ quan, lơ là và bỏ qua việc chiếm lĩnh văn bản thơ. Nhưng với dạng đề mở, các ra đề khác, nếu đề bài là Về một bài thơ em yêu thích thì đòi hỏi các em phải thuộc lòng thơ mới làm tốt đề bài này. Muốn vậy, trong quá trình học giáo viên phải bất chợt kiểm tra, Bài cũ, không nhất thiết là bài học của ngày hôm qua mà có thể những tác phẩm đã học rồi. Hoặc trong tiết ôn tập Văn học giáo viên có thể kiểm tra nội dung này.

- Ghi chép. Là hoạt động quan trọng. Không đợi giáo viên ghi bảng học sinh mới ghi bài. Giáo viên cần hình thành kĩ năng ghi bài cho các em. Ghi những ý các em thấy quan trọng, thích thú trong bài giảng của giáo viên hay khi đọc tài liệu…bởi bộ não của con người không thể lưu trữ tất cả các thông tin.

- Mạnh dạn đổi mới cách viết văn. Với những em học khá, giáo viên nên động viên, khuyến khích các em có những cách làm bài phong phú. Trải nghiệm nhiều cách viết bằng những góc độ khác nhau kết hợp với khả năng sáng tạo, trí tưởng tượng chắc chắn sẽ có bài văn để đời.

4.  Kết quả của đề tài được áp dụng

   Kết quả của đề tài bên dưới không phải là kết quả so sánh của đề tài thực nghiệm. Bởi thời gian Bộ Giáo dục đổi mới cách kiểm tra đánh giá và đưa vào thực thi quá gấp rút, nên tôi mạnh dạn lấy kết quả thi học kỳ II của cả khối học sinh 12 để thấy được sự khả quan, không chỉ trong kết quả ôn thi một thời gian ngắn mà còn ở cách ra đề mở của Bộ Giáo dục Đào tạo.

Khối 12

Xếp loại

( số lượng và tỉ lệ %)

≥8

5-7,5

< 5

102 học sinh

24 – 23,5%

60 – 58,8%

18 – 17,7%

 

 

 

 

 

 

C. KẾT LUẬN CHUNG

1. Đánh giá các phương pháp nghiên cứu

    - Dạy học sinh 12 khó nhất vẫn là làm thế nào để nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT. Nhất là khi năm 2014, Bộ Giáo dục Đào tạo quyết định đổi mới cách ra đề thi tốt nghiệp THPT. Với một thời gian ngắn mà giúp học sinh làm quen được với cấu trúc mới quả là không dễ dàng. Vì vậy, trong quá trình ôn tập, ngoài thao tác đầu tiên là giới thiệu cho các em biết cấu trúc đề thi, cho học sinh làm quen với dạng đề mới thì giáo viên cần giao bài tập bằng cách ra đề thi cho học sinh tự cảm nhận về nhà dưới sự định hướng của giáo viên. Bên cạnh đó kết thúc chương trình ôn thi giáo viên cần tổ chức thi thử nhằm kiểm tra kết quả ôn thi của các em.

- Đề đọc hiểu thực chất không kén chọn học sinh, bởi đề thi không đánh đó. Học sinh cũng không cần học quá nhiều, chỉ cần khả năng nắm bắt thông tin nhanh nhạy, kĩ năng tích lũy kiến thức là có thể ăn điểm. Vì thế với đề tài này tôi đã mạnh dạn đề xuất một số phương pháp nhỏ cũng như những lưu ý để các em linh hoạt thích nghi với kiểu bài mở này.

- Qua quá trình nghiên cứu và ứng dụng vào dạy học, bản thân tôi vẫn thấy những phương pháp đưa ra chưa phải là tốt nhất, nên cũng mong người đọc, đồng nghiệp có những ý kiến đánh giá khách quan, góp ý để có thể nâng cao chất lượng dạy học văn, đặc biệt là chất lượng thi tốt nghiệp THPT.

2. Ý nghĩa kinh nghiệm và đề xuất

* Kinh nghiệm:

      Để ôn thi tốt nghiệp THPT đạt hiệu quả cao, đòi hỏi giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy linh hoạt với từng đối tượng học sinh, với từng dạng văn bản, dạng đề thi; bản thân người giáo viên cần tích cực tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để không chỉ có cái nhìn sâu rộng về tác phẩm mà hiểu bản chất của việc đổi mới đề thi, cấu trúc thi…trên cơ sở đó từng bước định hướng học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo, đổi mới trong cách tiếp cận một văn bản thực thụ. Thành công của giờ dạy không chỉ là kết quả đạt được cuối cùng của kì thi mà quan trọng hơn những tác phẩm văn học đó đã có sự tác động sâu sắc đến tâm hồn, tình cảm của học sinh như thế nào.

* Đề xuất:

-  Về phía nhà trường:

  + Thư viện nhà trường nên bổ sung nguồn tài liệu mới về những tác phẩm văn học của những nhà văn, nhà thơ khác nhau, đa dạng về thể loại.

+ Một số sách tham khảo chuyên về ôn thi tốt nghiệp THPT.

+ Sách kĩ năng viết bài văn nghị luận.

+ Đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang bị phòng máy riêng dành cho học sinh tìm hiểu thông tin xã hội và giám sát hoạt động của học sinh bằng hệ thống máy chủ.

- Về phía giáo viên: Tích cực đổi mới hơn trong khâu kiểm tra, đánh giá bài học trên lớp thông qua hoạt động kiểm tra bài cũ hoặc thể hiện trong các tiết kiểm tra.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Nguyễn Đức Hùng – Cẩm năng ôn luyện môn văn – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013.

2. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Song Mai Thy - Bộ đề thi môn văn tốt nghiệp THPT – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013.

3. Nguyễn Viết Chữ - Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2013.

4. Dịch giả Đỗ Hữu Châu – Nghệ thuật và khoa học dạy học – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2012.

5. Báo Kênh tuyển sinh 247 – Tổng hợp các dạng đề thi thử tốt nghiệp THPT.

6. Mạng Internet với các trang báo: Dân trí, Báo Thanh niên, Hocmai.vn…

 

 

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Lượt truy cập hiện tại : 6
Hôm nay : 1.355
Tháng 03 : 53.907
Tháng trước : 46.251
Năm 2019 : 151.443