Thursday, 19/09/2019 - 09:36|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử Sở GD & ĐT Quảng Trị
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

NHỮNG THÀNH TỰU TIÊU BIỂU CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ TRONG 30 NĂM (1989 - 2019)

NHỮNG THÀNH TỰU TIÊU BIỂU CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ TRONG 30 NĂM (1989 - 2019)

1. Phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân

Năm học 1989-1990, toàn tỉnh có 349 cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông, 02 trường trung cấp với 82.313 học sinh. Đến năm học 2018-2019, toàn ngành có 423 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và các trung tâm; 01 phân hiệu Đại học Huế, 02 trường cao đẳng và 05 trường trung cấp với hơn 160.000 học sinh, sinh viên. Các trung tâm học tập cộng đồng phủ khắp 141 xã, phường, thị trấn.

Toàn cảnh ngày khai giảng

Khai giảng năm học mới

 

Các loại hình trường lớp ngày càng đa dạng; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được thành lập, củng cố và ngày càng phát triển; loại hình giáo dục ngoài công lập ngày càng tăng (15 trường mầm non, 02 trường phổ thông đa cấp, 02 trường trung cấp chuyên nghiệp và hàng nghìn nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập, tư thục).

 

2. “Cuộc chiến” xóa mù chữ và phổ cập giáo dục đạt nhiều kết quả lớn

 

Năm 1990 toàn tỉnh có 14.500 người mù chữ trong độ tuổi từ 15-35; tỷ lệ huy động học sinh vào các trường đạt thấp, tỉ lệ bỏ học chung các cấp là 7,5%. Đến năm 1996, Quảng Trị hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2005 và hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2006. Tháng 12/2013 tỉnh Quảng Trị hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đi học ngày càng tăng.

Tá»· lá» há»c sinh nghá» há»c giữa chừng tại miá»n núi vẫn còn cao, dù Äầu má»i nÄm há»c, nhà trÆ°á»ng Äã tá» chức vận Äá»ng há»c sinh Äến trÆ°á»ng

Một lớp học tại huyện miền núi Hướng Hóa

3. Từng bước đẩy lùi trường tranh tre nứa lá, kiên cố hóa trường lớp học

Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 tại 2 huyện miền núi Hướng Hóa và Đakrông, có hơn 80% trường lớp là tranh tre nứa lá, không có nhà công vụ cho giáo viên; toàn tỉnh chỉ có 3 ngôi trường kiên cố, cao tầng. Nhờ sự đầu tư mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, và của nhiều nguồn lực xã hội, đến nay tỷ lệ phòng học kiên cố - cao tầng của các cấp học đạt trên 72,5%, tỷ lệ xã, phường, thị trấn có trường cao tầng, kiên cố hóa đạt 100%. Nghị quyết số 34/2018/NQ-HĐND của HĐND tỉnh đã đặt ra mục tiêu phấn đấu từ năm 2019 đến 2021, xóa toàn bộ phòng học tạm, phòng học mượn trên phạm vi toàn tỉnh.

    Một trong những ngôi trường mầm non mới được đầu tư xây dựng khang trang tại huyện Đakrông

 

4. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên ngành Giáo dục ngày càng lớn mạnh

Năm 1990, toàn ngành có 5.374 cán bộ, giáo viên; đến năm 2019, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các cấp học và loại hình đào tạo là hơn 14.000 người. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn cao ở tất cả các cấp học, bậc học (Đạt chuẩn gần 100%, trên chuẩn 80,35%). Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên toàn ngành được tăng cường về số lượng, chuẩn hóa về trình độ, đảm bảo yêu cầu của việc dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục.

Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh cấp học mầm non

 5. Ứng dụng công nghệ thông tin góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và dạy học

Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin đã được quan tâm đầu tư. Hiện 100% trường THPT, cấp 2-3, mỗi trường có từ 01 đến 03 phòng máy với 25-80 máy được nối mạng LAN và kết nối internet ADSL, cáp quang; các phòng GD&ĐT, các trường THCS đều có phòng máy và kết nối internet; 25-35% trường tiểu học có phòng máy phục vụ dạy học từ 20-30 máy; nhiều trường đã chủ động huy động được các nguồn lực của xã hội đầu tư trang bị 100% ti vi 50 inchs ở các phòng học phục vụ cho công tác dạy học.

Đến nay, ngành Giáo dục đã xây dựng hệ thống Cổng thông tin điện tử (Portal) liên thông từ Sở đến các phòng Giáo dục và các trường học, đảm bảo thông tin xuyên suốt trong toàn ngành. Quảng Trị hiện là 1 trong 16 tỉnh, thành phố đang triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối liên thông trong toàn ngành và nối với hệ thống cơ sở dữ liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo. Triển khai hội nghị truyền hình, hội họp trực tuyến; ứng dụng các phần mềm về quản lý, nghiệp vụ có hiệu quả.

6. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn tăng

... và các em há»c sinh Äạt giải cao trong kỳ thi HSG quá»c gia

Ông Nguyễn Văn Hùng, UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh và Ông Mai Thức, UVBTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh

trao bằng khen cho học sinh đạt giải cao trong kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia năm 2018

Với nhiều giải pháp đồng bộ, chất lượng giáo dục toàn diện từng bước được nâng lên một cách vững chắc, đã tạo được nền tảng căn bản cho giáo dục mũi nhọn và giáo dục chất lượng cao. Từ năm 1999 đến 2019 toàn tỉnh đạt 457 giải học sinh giỏi quốc gia (trong đó 07 giải nhất, 50 giải nhì, 158 giải ba và 242 giải khuyến khích); 05 giải khu vực và quốc tế (01 huy chương Bạc tại Kỳ thi Olympic Toán học Singapore và Châu Á - SASMO 2017; 01 giải Ba quốc tế Cuộc thi Khoa học kỹ thuật do Intel ISEF 2017; 01 huy chương Bạc và 01 huy chương Đồng tại Kỳ thi Olympic Hình học Iran mở rộng năm 2018; 01 huy chương Bạc môn Tin học Olympic Châu Á – Thái Bình Dương); nhiều em đạt giải cao tại các kỳ thi giải Toán qua mạng Internet, trên máy tính Casio, các sân chơi trí tuệ cấp quốc gia…Xếp hạng của tỉnh theo điểm trung bình kết quả thi đại học, cao đẳng 5 năm trở lại đây đứng ở vị thứ từ 29 đến 32 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trong cả nước; nhiều học sinh đỗ thủ khoa vào các trường đại học.

VĂN PHÒNG SỞ


Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Lượt truy cập hiện tại : 5
Hôm nay : 270
Tháng 09 : 22.583
Tháng trước : 35.844
Năm 2019 : 370.069